A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thu hẹp khoảng cách số ở vùng dân tộc thiểu số để phát triển bền vững từ cơ sở

Xác định chuyển đổi số là trụ cột quan trọng thúc đẩy phát triển bền vững, Quảng Ninh đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách số giữa thành thị và nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tạo ra những chuyển biến rõ nét trong giảm nghèo.

Người dân vùng DTTS đã chủ động sử dụng các tiện ích số nâng cao tri thức, phát triển kinh tế. Ảnh BQN
Người dân vùng DTTS đã chủ động sử dụng các tiện ích số nâng cao tri thức, phát triển kinh tế. Ảnh BQN

Chuyển đổi số đi từ cơ sở, người dân là trung tâm

Trong thời gian qua, các địa phương ở Quảng Ninh đã đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân làm quen và sử dụng các dịch vụ số thiết yếu, nhất là với người dân vùng dân tộc thiểu số. Trong đó, đội ngũ cán bộ thôn, xã và các tổ công nghệ số cộng đồng đóng vai trò nòng cốt, trực tiếp hỗ trợ người dân “cầm tay chỉ việc”.

Với cách làm đồng bộ, nhiều người dân vùng DTTS đã chủ động sử dụng các tiện ích số trong đời sống hằng ngày như thanh toán tiền điện, nước không dùng tiền mặt, cài đặt ứng dụng VssID trong khám chữa bệnh, tra cứu thủ tục hành chính, tiếp cận dịch vụ công trực tuyến.

Đặc biệt, nhiều người dân đã biết ứng dụng mạng xã hội mở hướng đi mới trong quảng bá, tiêu thụ sản phẩm địa phương góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế. Điện thoại thông minh đã trở thành công cụ quen thuộc với hầu hết người dân. Không chỉ phục vụ liên lạc, thiết bị số còn được sử dụng để tra cứu thời tiết, tìm hiểu kỹ thuật sản xuất, quảng bá nông sản và đăng ký dịch vụ công.

Bà Nguyễn Thị Phúc ở xã Quang Tân chia sẻ, từ khi bán hàng qua internet, hiệu quả tăng rõ rệt. Các sản phẩm như máy phát điện, máy bơm nước được đăng trên mạng xã hội giúp khách hàng xa gần biết đến nhiều hơn, doanh thu ổn định hơn.

Trong lĩnh vực giáo dục, chuyển đổi số cũng đã giúp cho người dân ở vùng dân tộc thiểu số được tiếp cận những thông tin nhanh hơn, thay đổi chất lượng giáo dục. Người dân biết cách dùng phương thức thanh toán điện tử để nộp học phí… Chuyển đổi số không còn là khái niệm xa vời, mà đã trực tiếp tạo sinh kế mới và thay đổi chất lượng sống cho người dân vùng cao.

Đầu tư mạnh hạ tầng để thu hẹp khoảng cách số

Thu hẹp khoảng cách số được Quảng Ninh xác định là giải pháp quan trọng nhằm giảm nghèo bền vững, rút ngắn chênh lệch vùng miền. Theo đó, tỉnh tập trung đầu tư mạnh cho hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin tại vùng dân tộc thiểu số.

Hiện nay, 100% xã trên địa bàn tỉnh đã có internet băng rộng cố định. Toàn tỉnh có 5.078 trạm BTS, tương ứng 3.243 vị trí trạm, bảo đảm 100% dân số được phủ sóng 4G. Các nhà văn hóa tại các xã vùng DTTS đã được đầu tư lắp đặt hệ thống mạng wifi miễn phí, màn hình tivi, loa truyền thanh..., giúp cho công tác thông tin, truyền thông tại cơ sở được đa dạng. Cùng với đó, 100% thôn, bản đã thành lập và duy trì nhóm Zalo khu dân cư, trở thành kênh kết nối nhanh chóng giữa chính quyền và người dân.

Chuyển đổi số được thực hiện gắn liền với thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM. Trong giai đoạn 2021–2025, Quảng Ninh triển khai Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới (NTM) theo hướng hiện đại, bền vững, trong đó chuyển đổi số được xác định là một nội dung xuyên suốt.

Cùng các công trình, dự án nổi bật về điện, đường, trường, trạm được quan tâm đầu tư đồng bộ và hiện đại, tỉnh dành nguồn lực lớn để hoàn thiện đồng bộ hạ tầng viễn thông… Ngoài ra, hệ thống loa truyền thanh thông minh, hệ thống wifi công cộng, camera thông minh giám sát ANTT... được triển khai lắp đặt ngày càng phổ biến.

quang-ninh.jpg

Giá trị sản phẩm nông nghiệp nâng lên góp phần tăng thu nhập, giảm nghèo cho người dân. Ảnh TL

Hạ tầng số phát triển đã tạo điều kiện để các mô hình thôn, xã thông minh được nhân rộng, trở thành tiêu chí quan trọng trong xây dựng NTM kiểu mẫu. Công nghệ số được ứng dụng mạnh mẽ trong quản lý, điều hành, cung cấp dịch vụ công; từng bước hình thành chính quyền số ở cơ sở.

Thu hẹp khoảng cách số không chỉ dừng ở đầu tư hạ tầng hay phổ cập kỹ năng, mà quan trọng hơn là thay đổi tư duy và thói quen của người dân. Thông qua các mô hình như Tổ công nghệ số cộng đồng, phong trào “Bình dân học vụ số”, người dân dần quen với VNeID, thanh toán điện tử, quét mã QR, livestream bán hàng, nâng cao nhận thức về an toàn, an ninh mạng.

Trong sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi số góp phần thúc đẩy liên kết chuỗi, nâng cao giá trị sản phẩm OCOP, phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã và các mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan
Tìm kiếm

Tìm kiếm