Việt Nam tham dự APAIE 2026: Chủ động hiện diện và hội nhập quốc tế
Thay vì hội nhập thụ động, nay Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh thu hút sinh viên, chuyên gia, nhà khoa học quốc tế ngày càng gay gắt.
![]() |
| Sinh viên Trường Đại học Hà Nội. Ảnh: HANU |
Muốn vậy, công tác dự báo cơ hội, thách thức cần được nhìn nhận thực chất.
Chủ động từ cơ sở
Là một trong những cơ sở giáo dục đại học có uy tín và thế mạnh đào tạo ngoại ngữ và các chuyên ngành bằng ngoại ngữ, ông Nguyễn Tiến Dũng - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hà Nội cho hay, trong Chiến lược phát triển giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045, nhà trường xác định quốc tế hóa giáo dục là nền tảng cốt lõi để nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và mở rộng quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, trao đổi học thuật.
Với tầm nhìn phấn đấu trở thành đại học đa ngành định hướng ứng dụng, thuộc tốp đầu tại Việt Nam và có danh tiếng trong khu vực châu Á, nhà trường không ngừng mở rộng hợp tác quốc tế, nâng cao chất lượng giảng dạy và xây dựng môi trường học thuật đa văn hóa, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực toàn cầu.
Với gần 400 thỏa thuận hợp tác quốc tế còn hiệu lực, hơn 200 đối tác là cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu tại gần 40 quốc gia tiên tiến như: Mỹ, Canada, Úc, Anh, Pháp, Bỉ, Đức, Ý, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan… mỗi năm có khoảng 250 sinh viên của Trường Đại học Hà Nội được tham gia các chương trình trao đổi từ một học kỳ đến một năm, và có hơn 100 lượt cán bộ, giảng viên và chuyên viên được tập huấn, bồi dưỡng hoặc tham gia giảng dạy, nghiên cứu tại nước ngoài.
Những chương trình này giúp phát triển năng lực chuyên môn cho đội ngũ giảng viên của nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, tăng cường chất lượng đào tạo và kết nối học thuật với các trường đại học quốc tế, tạo điều kiện cho sinh viên Việt Nam được học tập với đội ngũ giảng viên quốc tế và nhận bằng cấp quốc tế với chi phí hợp lý.
Đặc biệt, từ năm học 2020 - 2021 đến nay, Trường Đại học Hà Nội triển khai chương trình thực tập tại Italia kéo dài 3 - 4 tháng dành cho sinh viên của trường và sinh viên một số trường khác, với mức hỗ trợ 500 - 700 Euro/tháng và được miễn phí chỗ ăn ở. Sinh viên được thực tập trong môi trường làm việc quốc tế và rèn luyện kỹ năng thực hành chuẩn nghề.
Cũng theo TS Nguyễn Tiến Dũng - Trường Đại học Hà Nội là đơn vị điều phối các dự án quốc tế như 10 dự án Erasmus+ do Liên minh châu Âu tài trợ, nhằm tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, chuyên viên tại Việt Nam và nhiều nước châu Á, trong các lĩnh vực Quản trị đại học, Chuyển đổi số, Quốc tế hóa, Việc làm cho sinh viên và Công nhận văn bằng.

Sinh viên Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: USTH
Nhận diện thách thức
Từ thực tiễn quản lý và triển khai các chương trình đào tạo, PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn - Hiệu trưởng Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, hội nhập quốc tế trong giáo dục đại học Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức. Nổi bật là cơ chế công nhận bằng cấp, tín chỉ quốc tế còn phức tạp; thủ tục hành chính không tinh gọn, trong khi khung pháp lý chưa theo kịp yêu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng. Ngoài ra, một trong những rào cản đáng chú ý khác đến từ chính đội ngũ giảng viên. Một bộ phận giảng viên còn hạn chế về năng lực ngoại ngữ, kỹ năng giảng dạy hiện đại cũng như kinh nghiệm làm việc trong môi trường học thuật quốc tế.
Đánh giá mức độ sẵn sàng của các trường đại học Việt Nam trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy, thiết kế chương trình và xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng theo chuẩn quốc tế, PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn cho rằng, nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất vẫn là “điểm nghẽn” lớn. Kinh phí đầu tư cho hạ tầng, công nghệ giảng dạy hiện đại và học liệu còn hạn chế, đặc biệt với cơ sở tự chủ tài chính, trong khi nguồn tài trợ từ Nhà nước và tổ chức quốc tế chưa đủ mạnh để tạo ra sự đột phá.
Bên cạnh đó, việc xây dựng và triển khai chương trình đào tạo đạt chuẩn quốc tế đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ về chuyên môn, nhân lực và cơ sở vật chất - điều mà không phải cơ sở giáo dục nào cũng có khả năng đáp ứng. Hệ thống kiểm định chất lượng trong nước còn chậm so với chuẩn mực quốc tế, nhiều quy trình chưa được cập nhật kịp thời, ảnh hưởng đến việc khẳng định chất lượng đào tạo, thu hút sinh viên quốc tế và mở rộng hợp tác học thuật.
Từ thực tiễn đó, PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn cho biết, Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế. Trọng tâm là xây dựng khung chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, điều chỉnh nội dung giảng dạy phù hợp với các bộ tiêu chuẩn kiểm định uy tín như AUN-QA, ABET; đồng thời tăng cường các học phần tích hợp công nghệ, kỹ năng mềm nhằm trang bị cho sinh viên năng lực làm việc trong môi trường toàn cầu.
Tiếng Anh được xác định là yếu tố then chốt trong tiến trình quốc tế hóa. Nhà trường đã triển khai các chương trình đào tạo giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh ở một số ngành mũi nhọn, đồng thời phát triển các chương trình cấp bằng kép, hợp tác với các trường đại học quốc tế để mở rộng cơ hội học tập và phát triển cho người học.
Về phương pháp giảng dạy, nhà trường đẩy mạnh ứng dụng các nền tảng học trực tuyến, trí tuệ nhân tạo; triển khai mô hình học tập kết hợp và dự án, qua đó nâng cao tính chủ động, sáng tạo của sinh viên. Cùng đó, việc mở rộng hợp tác quốc tế thông qua ký kết các biên bản ghi nhớ, tổ chức hội thảo, hội nghị khoa học quốc tế được xác định là giải pháp quan trọng để học hỏi kinh nghiệm, tiếp cận các mô hình giáo dục tiên tiến.
Để các nỗ lực này phát huy hiệu quả bền vững, PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn đề xuất Nhà nước sớm hoàn thiện cơ chế công nhận bằng cấp, tín chỉ quốc tế theo hướng minh bạch, thuận lợi; tăng cường đầu tư ngân sách cho giáo dục đại học; đồng thời hình thành các trung tâm hỗ trợ kết nối đối tác quốc tế, góp phần thúc đẩy hội nhập sâu rộng và nâng cao vị thế của giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Tự tin bước ra thế giới
Hội nhập quốc tế không chỉ là gửi sinh viên và giảng viên ra nước ngoài, ông Dương Quý Sỹ - Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục & Phát triển nhân lực cho rằng, chúng ta có thể mời chuyên gia, nhà khoa học quốc tế đến Việt Nam giảng dạy và nghiên cứu. Muốn vậy, cần gói chính sách cạnh tranh: Hợp tác trao đổi giảng viên, nghiên cứu viên, hợp đồng minh bạch, đãi ngộ hấp dẫn, công nhận học vị quốc tế, và cho phép giảng viên đồng cơ hữu giữa các trường Việt Nam và nước ngoài.
Quan trọng nhất phải tạo điều kiện làm việc an toàn, đa dạng văn hóa, có chính sách ưu đãi về lưu trú, cơ hội tiếp cận quỹ nghiên cứu, cơ sở vật chất hiện đại, và cơ chế tôn vinh, khen thưởng rõ ràng cho nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục người nước ngoài.
Theo ông Dương Quý Sỹ, vừa tiết kiệm thời gian, chi phí, vừa giúp các trường đại học Việt Nam trở thành điểm đến học thuật của khu vực, góp phần giữ chân người học trong nước và thu hút sinh viên quốc tế. Ông khẳng định, để hội nhập thành công, giáo dục Việt Nam phải dựa trên ba giá trị: “Khai phóng - Nhân bản - Phụng sự.” Đây không chỉ là mục tiêu chiến lược, mà còn là kim chỉ nam giúp giáo dục Việt Nam hội nhập mà không mất bản sắc, tự tin bước ra thế giới.
Giai đoạn 2025-2030 quyết định để đại học Việt Nam bứt phá. Do đó, ông Dương Quý Sỹ kỳ vọng sẽ hình thành các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp trong trường đại học; tăng cường công bố quốc tế, số lượng bằng sáng chế, giải thưởng khoa học. “Kỳ vọng lớn nhất là hệ thống giáo dục đại học vừa đồng bộ, vừa đạt chuẩn quốc tế, thu hút sinh viên và giảng viên quốc tế, hình thành mạng lưới đại học quốc tế tại Việt Nam”, ông Dương Quý Sỹ bày tỏ.
Khẳng định, đây là thời điểm vàng để tận dụng cơ hội từ Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục & Phát triển nhân lực nhấn mạnh, nếu không nắm bắt cơ hội sẽ bỏ lỡ nhịp phát triển và tụt hậu trong cạnh tranh nhân lực toàn cầu. Vì thế, ông Dương Quý Sỹ cho rằng, tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW như “ngọn đèn soi đường” cho giáo dục Việt Nam. Hội nhập quốc tế trong giáo dục không chỉ là tiếp thu, mà còn khẳng định bản lĩnh, bản sắc và đóng góp của Việt Nam cho tri thức nhân loại.
“Với quyết tâm chính trị và sự đồng lòng của toàn xã hội, giáo dục Việt Nam sẽ chủ động hiện diện, bước ra thế giới một cách tự tin, góp phần đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045”, ông Dương Quý Sỹ nói.
Để đạt mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam có hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, đứng vào nhóm 20 quốc gia hàng đầu, ít nhất 5 cơ sở giáo dục đại học lọt top 100, các chuyên gia, nhà khoa học cho rằng, cần có cơ chế thu hút chuyên gia, học giả, nhân tài trong và ngoài nước, nhất là những người đã học tập, nghiên cứu ở các nước tiên tiến quay về phục vụ đất nước.







