A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Vi phạm đăng ký và hủy hoại đất có được chuyển đổi mục đích sử dụng đất?

Việc vi phạm đăng ký đất đai và hành vi hủy hoại đất không tự động tước đi quyền được xem xét chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nhưng người sử dụng đất phải hoàn thành các nghĩa vụ pháp lý và khắc phục hậu quả trước thì mới có thể xem xét tiếp.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm rõ căn cứ xác định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; có đủ điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hay không theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành (Luật Đất đai 2024 và các văn bản hướng dẫn).

Công dân quan tâm các điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ảnh minh họa: Báo Lao động

Gửi phản ánh kiến nghị đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường, công dân Phùng Lan Anh (xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai) cho biết, hộ ông Nguyễn Văn A sử dụng thửa đất theo hiện trạng là đất trồng cây hàng năm khác (trồng ngô). Theo bản đồ địa chính được đo đạc năm 2019 ghi nhận là đất nuôi trồng thủy sản.

Bà Lan Anh cho biết, nguồn gốc quá trình sử dụng của ông A: Nhận chuyển nhượng của hộ gia đình khác từ năm 2013 là đất NTS (ký hiệu của đất nuôi trồng thủy sản, thuộc nhóm đất nông nghiệp - PV) đến năm 2024 đổ đất lên san tạo mặt bằng để trồng màu và sử dụng trồng cây HNK (ký hiệu trên sổ đỏ và bản đồ địa chính chỉ đất trồng cây hằng năm khác, thuộc nhóm đất nông nghiệp - PV) từ đó đến nay.

Nay ông A có nhu cầu xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Qua kiểm tra hiện trạng và nguồn gốc sử dụng đất nêu trên, bà muốn hỏi một số vấn đề cụ thể như sau:

Thứ nhất, trên cơ sở đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận của ông A, xã đi kiểm tra thực địa phát hiện việc ông A đổ đất làm mất hiện trạng đất NTS (đã được đo đạc và ghi nhận trên bản đồ địa chính năm 2019) thì có xác định ông A vi phạm hành chính và quyết định xử phạt ông A với các hành vi: Không đăng ký đất đai (quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP (Nghị định số 123); hủy hoại đất (quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 123) được hay không?

Thứ hai, vị trí thửa đất tại thời điểm xử phạt vi phạm mà phù hợp với quy hoạch sử dụng đất (là đất ở) thì khi xử phạt vi phạm không khôi phục hiện trạng ban đầu của đất về đất NTS (nộp phạt gấp 2 lần số tiền phạt), sau đó xét cấp Giấy chứng nhận cho ông A theo hiện trạng là đất HNK có được không?

Sau khi cấp lần đầu theo hiện trạng sử dụng đất là đất HNK thì cho phép ông A thực hiện thủ tục chuyển mục đích sang đất ở được không? Hoặc sau khi xử phạt vi phạm (không khôi phục hiện trạng và phù hợp quy hoạch là đất ở) thì công nhận 1 phần diện tích theo hạn mức giao đất ở mới của địa phương là đất ở, diện tích còn lại công nhận là đất HNK có được không?

Về đề nghị giải đáp của công dân, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có ý kiến như sau:

Trước hết, nội dung phản ánh của công dân không rõ thửa đất đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, hay có thuộc trường hợp có giấy tờ về quyền sử dụng đất hay không nên Bộ không có cơ sở trả lời cụ thể.

Thứ hai, tại điểm b khoản 3 Điều 3 Nghị định số 123 ngày 4/10/2024 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính như sau:

“b) Đối với các hành vi quy định tại các Điều 14, 24, 26 và 27 Nghị định này thì thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm là thời điểm đã thực hiện xong các hoạt động của hành vi vi phạm đó;”.

Thứ ba, tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 123 quy định: “2. Tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm được xác định theo người sử dụng đất, loại đất quy định tại Điều 9 Luật Đất đai và theo hiện trạng sử dụng đất trước khi vi phạm (địa hình, địa vật, công trình trên đất) và được ghi nhận tại biên bản vi phạm hành chính.

Việc xác định tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm căn cứ vào các hồ sơ, tài liệu có thể hiện tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm. Trường hợp không có hồ sơ, tài liệu thì người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính có trách nhiệm xác minh tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm trên cơ sở ý kiến trình bày của người vi phạm và ý kiến của UBND cấp xã”.

Thứ tư, tại khoản 2, khoản 4 và khoản 5 Điều 14 Nghị định số 123 quy định: “2. Hành vi làm biến dạng địa hình thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Thay đổi độ dốc bề mặt đất; hạ thấp bề mặt đất; san lấp đất có mặt nước chuyên dùng (trừ hồ thủy lợi) hoặc san lấp nâng cao, hạ thấp bề mặt của đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản mà làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định (trừ trường hợp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất trồng lúa sang trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản, xây dựng công trình phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên đất trồng lúa, cải tạo đất nông nghiệp thành ruộng bậc thang và hình thức cải tạo đất khác phù hợp với mục đích sử dụng đất được giao, được thuê, được công nhận quyền sử dụng đất hoặc phù hợp với dự án đầu tư đã được UBND cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất phê duyệt hoặc chấp thuận) thì hình thức và mức xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 5.000.000 - 10.000.000 đồng đối với diện tích đất dưới 0,05ha;

b) Phạt tiền từ 10.000.000 - 20.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,05ha đến dưới 0,1ha;

c) Phạt tiền từ 20.000.000 - 50.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,1ha đến dưới 0,5ha;

d) Phạt tiền từ 50.000.000 - 100.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,5ha đến dưới 1ha;

đ) Phạt tiền từ 100.000.000 - 200.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 1ha trở lên.

4. Đối với các hành vi vi phạm mà thuộc trường hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm theo quy định tại khoản 5 Điều này thì mức phạt tiền bằng 2 lần mức phạt tiền tương ứng quy định tại khoản 1, 2 Điều này, nhưng tối đa không quá 500.000.000 đồng đối với cá nhân, không quá 1.000.000.000 đồng đối với tổ chức.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này:

Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, trừ trường hợp việc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm không có tính khả thi trên thực địa. UBND cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế tại địa phương để quy định các trường hợp không có tính khả thi và mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất”.

Tại Điều 16 Nghị định số 123 quy định: “1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đăng ký đất đai lần đầu theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 132 Luật Đất đai. 2. Phạt tiền từ 2.000.000 - 3.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đăng ký biến động đất đai theo quy định tại các điểm a, b, i, k, l, m và q khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai. 3. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thực hiện đăng ký đất đai theo quy định”.

6. Tại Điều 4 Nghị định 281/2026/NĐ-CP ngày 13/7/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123 (sửa đổi khoản 2 Điều 16 Nghị định số 123) quy định: “2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đăng ký biến động đất đai theo quy định tại các điểm a, b, i, k, l, m và q khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai, trừ trường hợp nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thông qua việc thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 127 Luật Đất đai.”.

Từ những căn cứ pháp luật nêu trên, đồng thời không có hồ sơ và tình tiết pháp lý cụ thể nên Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, không đủ cơ sở để Bộ trả lời đủ hay không đủ điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hay không.

Vì thế, Bộ đề nghị công dân liên hệ với chính quyền địa phương nơi có đất để được hướng dẫn, giải quyết.

Các tin khác