
Mỗi mã UID chỉ được gắn với một sản phẩm, hàng hóa cụ thể và liên kết với một bản ghi dữ liệu chủ duy nhất trên Nền tảng quốc gia. Ảnh minh họa: Bách hóa xanh
Có khả năng định danh và truy xuất đến từng loại sản phẩm, hàng hóa
Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa có hiệu lực từ ngày 1/1/2027. Theo Nghị định, hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa được thực hiện trên môi trường số thông qua mã định danh sản phẩm, hàng hóa (mã UID) trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.
Trong đó, mã UID là đường dẫn (digital link) phù hợp tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn GS1 quốc tế được tạo lập tự động trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, có khả năng định danh và truy xuất đến từng đơn vị hoặc lô, mẻ, loại sản phẩm, hàng hóa.
Mỗi mã UID chỉ được gắn với một sản phẩm, hàng hóa hoặc một lô, mẻ cụ thể và liên kết với một bản ghi dữ liệu chủ duy nhất trên Nền tảng quốc gia.
Việc truy xuất nguồn gốc phải được ghi nhận thông qua khởi tạo chứng chỉ số qua mã UID, nhằm bảo đảm tính toàn vẹn, khả năng xác minh và truy vết độc lập. Việc ghi nhận được thực hiện đối với các sự kiện trọng yếu trong quá trình sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, lưu thông và tiêu dùng.
Các sự kiện này bao gồm cả việc xuất hóa đơn và ghi nhận thời điểm cơ quan Hải quan quyết định thông quan đối với hàng hóa theo quy định của pháp luật về thuế, hải quan và các hình thức quản lý khác.
Tuy nhiên, phạm vi áp dụng quy định được phân định theo mức độ rủi ro. Đối với sản phẩm, hàng hóa có rủi ro cao, việc định danh, xác thực dữ liệu chủ và truy xuất nguồn gốc là bắt buộc. Danh mục, lộ trình, phương thức thực hiện theo lô, mẻ hoặc từng đơn vị sản phẩm do bộ quản lý ngành, lĩnh vực quyết định, bảo đảm tính khả thi và phù hợp năng lực doanh nghiệp.
Hàng hóa rủi ro cao bắt buộc truy xuất
Bên cạnh việc ghi nhận hành trình sản phẩm, Nghị định số 372/2026/NĐ-CP đặt ra cơ chế số hóa và kết nối các giấy tờ gắn với hàng hóa. Đây là nội dung đáng chú ý đối với doanh nghiệp có nhiều chứng nhận chất lượng, xuất xứ và hồ sơ đánh giá sự phù hợp.
Đặc biệt, đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, việc định danh, xác thực dữ liệu chủ về sản phẩm, hàng hóa và truy xuất nguồn gốc được thực hiện bắt buộc.
Các chứng nhận chất lượng, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và các giấy tờ khác được số hóa, xác thực, đồng bộ với Nền tảng quốc gia, được thực hiện tuân theo lộ trình, tiêu chuẩn dữ liệu và yêu cầu quản lý do cơ quan có thẩm quyền quy định.
Với sản phẩm, hàng hóa có rủi ro trung bình và thấp, việc áp dụng được khuyến khích tự nguyện. Đối với hàng xuất khẩu, nguyên tắc cũng là tự nguyện, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.
Do đó, doanh nghiệp cần căn cứ danh mục, lộ trình và yêu cầu của ngành hàng để xác định nghĩa vụ cụ thể, thay vì hiểu rằng mọi sản phẩm đều phải áp dụng đồng loạt.
Đối với doanh nghiệp, bước chuẩn bị cần thiết là rà soát thông tin sản phẩm, các mã đang sử dụng và hồ sơ chứng nhận; xác định trách nhiệm cung cấp dữ liệu trong chuỗi cung ứng. Với doanh nghiệp xuất khẩu, việc chủ động áp dụng còn cần cân nhắc yêu cầu của nước nhập khẩu.
Khung pháp lý mới tạo nền tảng nâng cao tính minh bạch của hàng hóa, khi thông tin được xác thực gắn với trách nhiệm cụ thể, truy xuất nguồn gốc sẽ có thêm giá trị trong quản lý và xây dựng niềm tin thị trường.


