Xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng
Sáng 3/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an trình bày Tờ trình.
Theo Bộ trưởng Bộ Công an, việc ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng; đồng thời tạo cơ sở pháp lý bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; thể hiện sự nhân văn, khoan hồng của Đảng, Nhà nước; lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội để xử lý phù hợp.
Trong quá trình xây dựng dự thảo Nghị quyết, cơ quan soạn thảo đã gửi xin ý kiến của UBND các tỉnh, thành phố, các bộ, ngành có liên quan và các cơ quan của Đảng. Trên cơ sở ý kiến tham gia, cơ quan soạn thảo đã nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ dự án Nghị quyết và gửi Bộ Tư pháp thẩm định.
Dự thảo Nghị quyết gồm 3 chương, 13 điều với các nội dung cụ thể: Quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc thực hiện và giải thích từ ngữ. Theo đó, Nghị quyết này quy định cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm, xử lý vi phạm pháp luật nêu trên.
Nghị quyết này quy định các nguyên tắc thực hiện, trong đó có các nguyên tắc quan trọng cốt lõi gồm: Khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung; khoan hồng, giảm nhẹ đối với các hành vi vi phạm nhưng vì lợi ích chung, lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội để xử lý phù hợp; ưu tiên áp dụng các biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính; xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng; xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng Nghị quyết này để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Bên cạnh đó, dự thảo Nghị quyết đã giải thích 9 thuật ngữ để thống nhất cách hiểu, gồm: Không tham nhũng; vì lợi ích chung; hậu quả thiệt hại; khắc phục hậu quả thiệt hại; mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước; không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo; vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước; vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế tư nhân; và vi phạm pháp luật trong ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Ngoài ra, Nghị quyết quy định về xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Dự thảo Nghị quyết cũng quy định về hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện. Nghị quyết dự kiến được thực hiện trong 3 năm kể từ ngày có hiệu lực thi hành.
Trường hợp sau thời điểm hết hiệu lực nhưng thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả vẫn còn, thì tiếp tục được thực hiện cho đến khi hết thời hạn tạm hoãn (không quá 2 năm).
Thiết lập cơ chế kiểm soát, giám sát chặt chẽ
Thẩm tra dự thảo Nghị quyết, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng; tạo cơ sở pháp lý để xử lý các vấn đề cấp thiết khi một số luật chưa được sửa đổi, bổ sung; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong xử lý các vụ việc, vụ án; khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, không vụ lợi, không tham nhũng; qua đó nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi trình bày báo cáo thẩm tra.
Tuy nhiên, đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục bám sát, thể chế hóa đầy đủ Nghị quyết số 04-NQ/TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng; lượng hóa tiêu chí phân loại vi phạm, điều kiện áp dụng chính sách khoan hồng; thiết lập cơ chế kiểm soát, giám sát chặt chẽ, ngăn ngừa việc lợi dụng, bảo đảm nguyên tắc không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Theo ông Phan Văn Mãi, các cơ chế, chính sách tại dự thảo Nghị quyết cơ bản phù hợp với Hiến pháp, thuộc thẩm quyền ban hành của Quốc hội và tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan.
Song, do dự thảo có nhiều quy định đặc thù, khác so với pháp luật hiện hành, đề nghị tiếp tục rà soát để xác định cụ thể các nội dung được áp dụng khác, phạm vi và nguyên tắc ưu tiên áp dụng; đồng thời, xử lý các xung đột, chồng chéo có thể phát sinh với Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về thi hành án và pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm việc tổ chức thực hiện thống nhất, khả thi, minh bạch.
Đồng thời, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo chuẩn bị đồng thời các văn bản hướng dẫn thực hiện, nhất là hướng dẫn về tiêu chí xác định “vì lợi ích chung”, “không tham nhũng”, “hiệu quả kinh tế - xã hội”, “khắc phục hậu quả” và các điều kiện áp dụng cơ chế khoan hồng…
Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản nhất trí với phạm vi điều chỉnh của dự thảo Nghị quyết quy định về cơ chế, chính sách đặc thù đối với các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

