A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phú Thọ: Đưa kết quả tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo vào đánh giá KPI cán bộ

Các cơ quan, đơn vị tại Phú Thọ sẽ cụ thể hóa nhiệm vụ được giao thành tiêu chí đánh giá theo KPI. Kết quả tiếp công dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo cũng là thước đo năng lực cán bộ để thực hiện chủ trương “có vào, có ra” và “có lên, có xuống”.

Tổ công tác của Thanh tra Chính phủ phối hợp với cơ quan chức năng của Phú Thọ giải quyết khiếu nại. Ảnh: ĐT

UBND tỉnh Phú Thọ yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương cụ thể hóa nhiệm vụ được giao từng tháng, quý, năm thành tiêu chí đánh giá dựa trên hệ thống chỉ số hiệu suất làm việc (KPI).

Khắc phục tình trạng "cào bằng" trong đánh giá

Theo Văn bản số 14217 mới được Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Khắc Hiếu ký ban hành, việc đánh giá cán bộ, công chức, viên chức của Phú Thọ sẽ được chuyển đổi mạnh mẽ từ định tính sang định lượng bằng KPI.

Nhằm thực hiện nghiêm tinh thần chỉ đạo của Trung ương và Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ yêu cầu người đứng đầu các sở, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp và UBND xã, phường phải lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị làm thước đo, kiên quyết khắc phục tình trạng "cào bằng" trong đánh giá cán bộ.

Đáng chú ý, trong hệ thống các tiêu chí KPI, kết quả tiếp công dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo cùng hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ được đưa vào danh mục các tiêu chí đánh giá.

Tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị phải đánh giá, xếp loại cán bộ công tâm, khách quan, thực chất, dựa trên sự tín nhiệm của tập thể.

Việc đưa chỉ tiêu giải quyết khiếu nại, tố cáo nói riêng và các nhiệm vụ khác vào KPI đòi hỏi cán bộ, nhất là người ở cơ sở phải có tầm nhìn, trí tuệ, bản lĩnh, gần dân, sát dân, hiểu dân và có kỹ năng thuyết phục, đối thoại, giải quyết công việc, phục vụ Nhân dân.

UBND tỉnh Phú Thọ duy trì 3 Trụ sở Tiếp công dân tại 3 phường Việt Trì, Vĩnh Yên, Hòa Bình nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện quyền kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo. Ảnh: ĐT

Căn cứ để thực hiện "có vào, có ra" và “có lên, có xuống”

Song song với công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo, khung tiêu chí KPI của Phú Thọ cũng gắn chặt với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội khác.

Cụ thể, các chỉ số như tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công, kết quả giải quyết khó khăn, vướng mắc đối với các dự án tồn đọng, tiến độ giải phóng mặt bằng, xử lý cơ sở nhà đất dôi dư, tháo gỡ điểm nghẽn về đất đai, khoáng sản hay thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đều được lượng hóa.

Bên cạnh đó, mức độ hoàn thành chỉ tiêu xử lý hồ sơ hành chính trực tuyến, khắc phục tồn tại, hạn chế sau thanh tra, kiểm tra và đẩy mạnh chuyển đổi số cũng quyết định đến mức xếp loại của từng cá nhân và tập thể.

Đáng chú ý, việc đánh giá KPI hằng tháng từ tháng 7/2026 là căn cứ quan trọng để tỉnh thực hiện nghiêm túc chủ trương "có vào, có ra", "có lên, có xuống".

Thông qua kết quả xếp loại hằng quý, hằng năm, Phú Thọ sẽ kịp thời miễn nhiệm, cho từ chức hoặc thay thế những cán bộ có năng lực hạn chế, uy tín thấp, sợ trách nhiệm, đùn đẩy công việc.

Đồng thời, bảo vệ, trọng dụng những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và có sản phẩm, uy tín.

Đối với cán bộ thuộc diện Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý, kết quả thực hiện nhiệm vụ phải được tổng hợp, gửi Sở Nội vụ trước ngày 20 của tháng cuối quý để tham mưu UBND tỉnh báo cáo cấp có thẩm quyền.

Việc đưa công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội vào hệ thống KPI thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ của tỉnh Phú Thọ trong việc đổi mới công tác cán bộ.

Quy định này không chỉ tạo động lực thúc đẩy tinh thần trách nhiệm, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước mà còn hứa hẹn tạo bước đột phá trong cải cách hành chính, củng cố niềm tin của Nhân dân vào bộ máy chính quyền địa phương.

Danh mục nhiệm vụ cụ thể được UBND tỉnh yêu cầu bám sát khi xây dựng KPI:

  1. Kết quả, tỷ lệ thực hiện giải ngân vốn đầu tư công;

  2. Kết quả, tỷ lệ giải quyết khó khăn, vướng mắc đối với các dự án tồn đọng theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền;

  3. Kết quả, tỷ lệ thực hiện giải phóng mặt bằng, phát triển quỹ đất;

  4. Kết quả, tỷ lệ giải quyết cơ sở nhà đất dôi dư;

  5. Kết quả, tỷ lệ giải quyết các điểm nghẽn về đất đai, giá đất, giao đất, cho thuê đất, khoáng sản…;

  6. Kết quả, tỷ lệ thu hút vốn đầu tư FDI;

  7. Kết quả, tỷ lệ thực hiện các chỉ tiêu, mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết, Đề án, kế hoạch về các lĩnh vực như: Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Văn hóa Xã hội, Khoa học công nghệ, Công nghiệp, Nông nghiệp, Ngoại vụ, Dân tộc …;

  8. Kết quả thực hiện khắc phục tồn tại hạn chế sau thanh tra, kiểm tra trên tất cả các lĩnh vực;

  9. Kết quả thực hiện nhiệm vụ về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số;

  10. Kết quả giải quyết thủ tục hành chính; tỷ lệ giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến; tỷ lệ hồ sơ chậm hạn, trước hạn;

  11. Hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ (tính đầy đủ, tính kịp thời, mức độ công khai, mức độ đáp ứng yêu cầu);

  12. Kết quả tiếp công dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo;

  13. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng, nhiệm vụ.

 

 

 

Thích

Các tin khác