A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 tăng 0,2% chủ yếu do giá nhiên liệu điều chỉnh tăng lên

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 tăng 0,2% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới.

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2026 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) vừa công bố cho thấy, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2026 tăng 0,2% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới. CPI tháng 10 tăng 4,41% so với tháng 12/2025 và tăng 5,09% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2026, CPI tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,24%.

Riêng trong tháng 10/2026, trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng chính, 7 nhóm có chỉ số giá tăng và 4 nhóm có chỉ số giá giảm.

Cụ thể, nhóm giao thông ghi nhận mức tăng 2,66%, qua đó tác động làm CPI chung tăng tới 0,27 điểm phần trăm. Sự biến động này chủ yếu bắt nguồn từ diễn biến của thị trường năng lượng toàn cầu, kéo theo chỉ số giá xăng trong nước tăng 6,86% và dầu diesel tăng 0,75%.

Ảnh minh họa

Bên cạnh nhiên liệu, chi phí nhập khẩu linh kiện tăng cũng đẩy giá nhóm phụ tùng lên 0,49%. Chi phí nhân công nhích lên làm dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,26%, dịch vụ rửa xe, bơm xe cũng tăng 0,51%. Dù vậy, thị trường giao thông vẫn ghi nhận những đặc điểm mang tính mùa vụ, thể hiện qua việc giá vận tải hành khách bằng đường hàng không giảm mạnh 10,58% do nhu cầu du lịch bước vào mùa thấp điểm và các hãng phải giảm giá vé kích cầu. Tương tự, vận tải đường sắt giảm 2,39%, đi cùng các chương trình ưu đãi từ doanh nghiệp đã kéo giá xe ô tô đã qua sử dụng giảm 1,23%, xe ô tô mới giảm 1,09% và xe máy mới giảm 0,21%.

Tiếp đó, nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng có mức tăng nhẹ 0,04%, chủ yếu do giá gas tăng vọt 10,35% kết hợp với dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,63% và vật liệu bảo dưỡng tăng 0,4%. Tuy nhiên, yếu tố thời tiết chuyển mát đã làm giảm nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt của các hộ gia đình, giúp giá điện sinh hoạt giảm 1,99% (chỉ số này phản ánh biến động trễ một tháng do tính dựa trên doanh thu và sản lượng tháng 9) và nước sinh hoạt giảm 0,09%. Giá thuê nhà cũng ghi nhận mức giảm nhẹ 0,22%.

Bên cạnh đó, các nhóm hàng hóa phục vụ giáo dục và y tế đều ghi nhận mức tăng đồng đều 0,31%. Đối với giáo dục, nguyên nhân trực tiếp đến từ việc một số trường dân lập điều chỉnh tăng học phí năm học mới làm dịch vụ giáo dục tăng 0,33%, cùng với đó đồ dùng học tập (như bút viết, đồ dùng học tập và sản phẩm từ giấy) cũng tăng nhẹ. Về lĩnh vực y tế, một số địa phương đã tiến hành điều chỉnh giá dịch vụ y tế (tăng 0,34%). Đồng thời, giá nhiều loại thuốc và dụng cụ y tế cũng nhích lên.

Trên thị trường, áp lực từ chi phí nguyên vật liệu, nhân công và vận chuyển cũng đẩy giá nhóm thiết bị, đồ dùng gia đình tăng 0,17% và đồ uống, thuốc lá tăng 0,19%. Trong khi hàng thủy tinh, sành sứ, nước giải khát có ga, thuốc hút đồng loạt tăng giá thì ở chiều ngược lại, các mặt hàng điện máy (như máy hút bụi, điều hòa, tủ lạnh) hay đồ uống (như bia) lại ghi nhận mức giảm nhẹ. Nhóm hàng hóa, dịch vụ khác tăng 0,27% nhờ sự sôi động của dịch vụ chăm sóc cơ thể và cắt tóc gội đầu, dù giá đồ trang sức bán ra giảm 1,94% theo nhịp điều chỉnh của giá vàng trong nước.

Ở chiều ngược lại, thị trường ghi nhận 4 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm. Đáng chú ý, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống đã “hạ nhiệt” 0,24%, đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần làm CPI chung giảm 0,09 điểm phần trăm. Trong đó, chỉ số giá nhóm lương thực giảm 0,57% chủ yếu nhờ nguồn cung dồi dào và giá gạo xuất khẩu xuống thấp, kéo giá gạo tẻ thường, gạo tẻ ngon và gạo nếp giảm. Dù vậy, nhóm lương thực chế biến, bột mì, ngũ cốc, khoai và bánh mì vẫn nhích nhẹ.

Nhóm thực phẩm giảm 0,32% với nguyên nhân chủ yếu là giá thịt lợn giảm 2,33%. Lúc này, nguồn cung lợn trong nước dồi dào nhưng sức tiêu thụ hạn chế, cộng thêm áp lực cạnh tranh từ thịt lợn nhập khẩu giá thấp đã chi phối thị trường. Kéo theo, các mặt hàng như trứng, thịt gia cầm, thịt bò, thủy hải sản cũng đồng loạt giảm. Tuy nhiên, thời tiết bất lợi đã ảnh hưởng đến nguồn cung rau tươi, làm mặt hàng này tăng 1,62%, đi kèm là sự tăng giá của chè, cà phê, quả tươi, gia vị và sữa. Dịch vụ ăn uống ngoài gia đình cũng tăng nhẹ 0,11%.

3 nhóm còn lại ghi nhận điều chỉnh giảm là nhóm văn hóa, giải trí và du lịch (giảm 0,87%) do tính chất mùa vụ làm du lịch trong và ngoài nước, cũng như dịch vụ lưu trú đi xuống. Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,18% nhờ sự “hạ nhiệt” của các thiết bị công nghệ (như điện thoại, máy tính bảng, ti vi màu và dịch vụ viễn thông). Cuối cùng, nhóm may mặc, mũ nón và giày dép ghi nhận mức giảm 0,06%.

CPI bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,57% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,61%, tác động làm CPI chung tăng 1,65 điểm phần trăm; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,66%, tác động làm CPI chung tăng 1,51 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 6,98%, tác động làm CPI chung tăng 0,7 điểm phần trăm, trong đó giá nhiên liệu tăng 13,09%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại đều có chỉ số giá tăng gồm: hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,72%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,8%; giáo dục tăng 3,29%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,88%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,75%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 2,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19%; thông tin và truyền thông tăng 0,12%.

Lạm phát cơ bản tháng 10 năm 2026 giảm 0,05% so với tháng trước và tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,57% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống, dịch vụ y tế biến động làm CPI chung tăng, trong khi các nhóm này được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

Hải Long

Các tin khác