A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Các động lực chiến lược thúc đẩy đàm phán thương mại tự do ASEAN-EU

Việc nối lại các cuộc đàm phán về thương mại tự do ASEAN-EU trong tương lai được diễn ra với các động lực chiến lược bổ sung của cả hai khu vực.

Các cuộc đàm phán hồi sinh gần đây nhằm mục đích ký kết một hiệp định thương mại tự do liên khu vực (FTA) giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Liên minh châu Âu (EU) đã bị tạm dừng vào năm 2009, được thúc đẩy bởi các động lực chiến lược của cả hai khu vực.

Tuy nhiên, trong số những trở ngại mà một FTA ASEAN -EU cuối cùng phải đối mặt là vấn đề then chốt của việc EU theo đuổi một chính sách ngoại giao dựa trên giá trị trong tất cả các mối quan hệ đối ngoại của mình, trái ngược với 'cách thức ASEAN'. Việc EU kiên quyết kết hợp các thành phần nhân quyền cơ bản vào các cuộc thảo luận FTA, được chứng minh trong thực tiễn gần đây có thể dẫn đến một quá trình đàm phán kéo dài về vấn đề này và các vấn đề kỹ thuật phức tạp bổ sung đặc trưng cho các FTA của EU, chẳng hạn như về sở hữu trí tuệ và quy tắc xuất xứ.

Các động lực chiến lược

Việc nối lại các cuộc đàm phán về một FTA ASEAN-EU trong tương lai được diễn ra với các động lực chiến lược bổ sung của cả hai khu vực. Đối với các thành viên ASEAN, EU là một đối trọng của các đối thủ kinh tế lớn mạnh trong khu vực - Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ.

Các động lực chiến lược thúc đẩy đàm phán thương mại tự do ASEAN-EU

Hơn nữa, phù hợp với cách tiếp cận cân bằng quyền lực truyền thống về các vấn đề an ninh, sự hiện diện kinh tế mạnh mẽ của EU trong khu vực tạo ra mong muốn mạnh mẽ để đảm bảo hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á. Đối với EU, là Đối tác Đối thoại của ASEAN từ năm 1977, EU mong muốn nhận thức sâu sắc hơn về sự năng động kinh tế của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á chiếm vị trí trung tâm về kinh tế, địa lý và chính trị.

Thứ nhất, mối quan hệ thương mại trong các viễn cảnh toàn cầu và khu vực: EU là thị trường 500 triệu dân, trong khi ASEAN là thị trường trên 660 triệu. ASEAN là khối kinh tế lớn thứ năm trên thế giới với GDP hơn 3 nghìn tỷ USD và 660 triệu khách hàng tiềm năng. EU là đối tác thương mại lớn thứ ba của ASEAN vào năm 2020, với tổng thương mại hai bên là 226,6 tỷ USD tương đương 8,5% tổng thương mại hàng hóa của ASEAN. Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ EU vào ASEAN đạt 10 tỷ USD vào năm 2020, đưa EU trở thành nguồn FDI bên ngoài lớn thứ ba trong số các đối tác ASEAN.

Mạng lưới các FTA song phương và khu vực cạnh tranh trong khu vực phản ánh các động lực địa chính trị của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương: Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) là khối thương mại lớn nhất bao gồm cả các đối thủ Trung Quốc và Nhật Bản và 10 nước ASEAN, có hiệu lực vào đầu năm 2022; Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), chiếm 13,5% GDP toàn cầu, có hiệu lực với 9 bên ký kết vào năm 2019, bao gồm các đối thủ địa chính trị mới nổi của Trung Quốc, Úc, Canada, Nhật Bản và các thành viên ASEAN cảnh giác với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc - Brunei, Malaysia, Singapore và Việt Nam.

Trước khi Mỹ rút khỏi hiệp định, CPTPP là một thỏa thuận do Washington dẫn đầu sẽ giữ Mỹ ở trung tâm của thương mại toàn cầu và khu vực thực sự tốt trong thế kỷ 21. Một loạt các thỏa thuận khác với ASEAN và các đối tác đối thoại bao gồm các FTA với Úc – New Zealand, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, EU và Singapore, EU và Việt Nam và Hàn Quốc, Mỹ và Singapore. Thương mại và địa-chính trị có mối quan hệ mật thiết với nhau: Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT) nay là WTO, là một phần quan trọng của cuộc cạnh tranh trong Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô. Mối quan tâm nhen nhóm đối với thương mại EU-ASEAN xảy ra khi EU tìm cách mở rộng ảnh hưởng toàn cầu. Đông Nam Á là một thành phần quan trọng của chiến lược này.

Thứ hai, hòa bình và an ninh ở Ấn Độ - Thái Bình Dương: Năm 2020, sau nhiều năm vận động hành lang, EU đã trở thành đối tác đối thoại chiến lược của ASEAN. Người đứng đầu chính sách đối ngoại của EU, Josep Borell, đã nhấn mạnh việc EU đặt trọng tâm vào việc đa dạng hóa các mối quan hệ đối tác của mình trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương… Các động lực chiến lược được thúc đẩy bởi quan hệ đối tác liên thể chế (ASEAN-EU) và đối thoại liên khu vực đã được chính thức hóa hiện có (Các cuộc họp Á-Âu hay ASEM).

Năm 1994, EU đã công bố “Chiến lược châu Á mới” dẫn đến một quá trình thể chế hóa các cuộc họp Thượng đỉnh kể từ đó giữa các nhà lãnh đạo của 51 quốc gia và hai tổ chức. Các cuộc đối thoại của ASEM hiện xoay quanh ba trụ cột: chính trị, kinh tế và tài chính. Được hướng dẫn bởi Tuyên bố Nuremberg năm 2007, hai khu vực theo đuổi tầm nhìn dài hạn và cam kết hợp tác cùng nhau, đặc biệt là về hòa bình và an ninh.

EU bắt đầu quan hệ ngoại giao chính thức với ASEAN vào tháng 3/2009, sau đó là các thành viên EU. Nó trở thành tổ chức khu vực đầu tiên gia nhập Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác của ASEAN ở Đông Nam Á (TAC), do đó thúc đẩy sự tham gia chính trị và an ninh của EU với khu vực. EU đã thành lập Phái đoàn ngoại giao tại ASEAN vào tháng 8/2015 và bổ nhiệm một Đại sứ chuyên trách. Vào ngày 1/12/2020, Hội nghị Bộ trưởng EU-ASEAN lần thứ 23 đã nâng quan hệ Đối tác Đối thoại EU-ASEAN lên Đối tác Chiến lược.

Mặc dù EU không được coi là một bên tham gia an ninh trong khu vực theo nghĩa quân sự cổ điển, nhưng đòn bẩy quyền lực trong các mối quan hệ quốc tế đương đại, thể hiện qua các biện pháp trừng phạt kinh tế nhanh chóng và liên quan của EU đối với cuộc chiến ở Ukraine vào tháng 2 là nhiều mặt. Các đòn bẩy quyền lực phi truyền thống mà Brussels sử dụng bao gồm: (1) khối thương mại hội nhập cao, (2) các sáng kiến ​​của khối nhằm giải quyết cấp bách tồn tại của biến đổi khí hậu (khoản tài trợ ban đầu trị giá 30 tỷ euro trong khuôn khổ hợp tác EU-ASEAN về mối đe dọa này) sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến Đông Nam Á, (3) Hỗ trợ về quản trị kỹ thuật số và cơ sở hạ tầng ở Ấn Độ-Thái Bình Dương, bao gồm cả Kế hoạch tổng thể kỹ thuật số năm 2025 của ASEAN, và (4) Sáng kiến ​​Cổng toàn cầu, một chương trình đầu tư 300 tỷ euro với mong muốn cạnh tranh với Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường (BRI) khổng lồ của Trung Quốc, vốn đã đóng góp hơn 740 tỷ USD cho riêng Đông Nam Á.

Những sáng kiến ​​này phù hợp với chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của EU và các quốc gia thành viên hùng mạnh của EU. Ủy ban Châu Âu lưu ý rằng trong khi Châu Âu và Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương nắm giữ hơn 70% thương mại hàng hóa và dịch vụ toàn cầu, cũng như hơn 60% dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, “động lực hiện tại ở Ấn Độ - Thái Bình Dương đã làm tăng cường cạnh tranh địa chính trị làm gia tăng căng thẳng về thương mại và chuỗi cung ứng cũng như trong các lĩnh vực công nghệ, chính trị và an ninh ”.

Do đó, EU tìm cách “duy trì một Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và cởi mở cho tất cả mọi người trong khi xây dựng quan hệ đối tác bền vững và lâu dài”. Trong số các lĩnh vực ưu tiên hành động của EU là an ninh và quốc phòng và an ninh con người. Các hiệp định thương mại và đầu tư của EU với Singapore và Việt Nam là những khối xây dựng quan trọng trong chiến lược của EU, mang lại bài học về các vấn đề phức tạp như quy tắc xuất xứ tích lũy, thương mại dịch vụ và hàng rào phi thuế quan trong các ngành công nghiệp chủ chốt. Đây là cách tiếp cận mà EU tiến tới FTA với ASEAN.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan
Tìm kiếm

Tìm kiếm