Đột phá theo Nghị quyết 57: Cần cơ chế phát triển đội ngũ nhà khoa học có trình độ cao
Việc phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ (bao gồm những người tham gia nghiên cứu, sáng tạo, giảng dạy, quản lý và vận hành các hoạt động liên quan đến khoa học và công nghệ) được Đảng xác định là nhiệm vụ then chốt trong việc làm chủ và phát triển công nghệ chiến lược trong thời gian tới.
Sau một năm triển khai thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, ngoài những kết quả quan trọng đã đạt được, Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cũng đã chỉ ra những hạn chế, điểm nghẽn cần sớm khắc phục, trong đó chỉ rõ: “nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược còn thiếu”.
*Thiếu hụt nguồn nhân lực trình độ cao
Sau gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Một số lĩnh vực nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ khoa học tiệm cận với trình độ trên thế giới. Mặc dù vậy, trước nhu cầu phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ để đổi mới mô hình tăng trưởng, đội ngũ nhà khoa học hiện nay còn mỏng và thiếu những nhà khoa học có trình độ cao.
Trước nhu cầu phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ để đổi mới mô hình tăng trưởng, đội ngũ nhà khoa học hiện nay được nhận định còn mỏng và thiếu những nhà khoa học có trình độ cao. Theo Giáo sư, Viện sĩ Lê Trường Giang, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, một nghiên cứu của Bộ Khoa học và Công nghệ và thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2025 cho thấy, tỷ lệ nhân lực nghiên cứu của Việt Nam hiện chỉ đạt khoảng gần 1.300 người/1 triệu dân. Con số này so với các nước trong khu vực còn khiêm tốn, như: Hàn Quốc 9.400 người/1 triệu dân; Singapore 7.000 người/1 triệu dân. Số lượng Giáo sư, Phó giáo sư gần 7.000 người, tuy có tăng nhưng tỷ lệ trên quy mô sinh viên và dân số vẫn rất thấp, đạt khoảng 0,31 Giáo sư, Phó Giáo sư/100 sinh viên; so với 2,5 Giáo sư, Phó Giáo sư/100 sinh viên của Trung Quốc và 13 Giáo sư, Phó Giáo sư/100 sinh viên của Hoa Kỳ.
Theo Giáo sư, Viện sĩ Lê Trường Giang, nếu tính nhà khoa học có trình độ cao là người có học hàm Giáo sư, Phó Giáo sư trở lên cho tất cả các phân ngành nghiên cứu (328 chuyên ngành nghiên cứu và 1.780 phân ngành nghiên cứu theo Thông tư số 24/2025/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ: Ban hành Bảng phân loại lĩnh vực khoa học và công nghệ) thì tỷ lệ trung bình đạt 5,46 nhà khoa học trình độ cao/phân ngành (giả thuyết 60% số lượng Giáo sư, Phó Giáo sư của Việt Nam đang làm việc). Nếu tính nhà khoa học có trình độ cao là người có trình độ Tiến sĩ và tiếp tục nghiên cứu toàn thời gian trong lĩnh vực khoa học và công nghệ tối thiểu 5 năm thì tỷ lệ trung bình đạt 8,25 nhà khoa học trình độ cao/phân ngành nghiên cứu.
Số liệu trên cho thấy sự thiếu hụt các nhà khoa học có trình độ cao để nghiên cứu, đào tạo các thế hệ nhà khoa học kế cận. Bên cạnh đó còn có sự mất cân đối về lực lượng nhà khoa học, một số ngành khoa học cơ bản đến nay đã không còn nhân lực nghiên cứu dẫn đến sự biến mất của một số chuyên ngành khoa học tại Việt Nam.
*Những nỗ lực trong phát triển nguồn nhân lực
Trong giai đoạn 2020 - 2025, công tác đào tạo tại Viện Hàn lâm đã có bước phát triển rõ rệt cả về quy mô và chất lượng. Trong nhiều năm qua, Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội là mô hình đào tạo quốc tế hóa tiêu biểu với hơn 4.000 sinh viên, 100% chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh, 7 chương trình song bằng quốc tế và nhiều ngành gắn với công nghệ chiến lược như vi mạch bán dẫn, công nghệ vũ trụ, hàng không; gắn đào tạo trực tiếp với phòng thí nghiệm và nhiệm vụ nghiên cứu quốc tế, giúp sinh viên tham gia ngay vào các dự án khoa học thực chất, tạo nền tảng để hình thành đội ngũ nhà khoa học trẻ có khả năng hội nhập quốc tế.
Trong khi đó, Học viện Khoa học và Công nghệ là mô hình phát triển Viện - Trường, liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và đào tạo tại Viện Hàn lâm. Hiện nay, Học viện Khoa học và Công nghệ đang đào tạo 48 ngành tiến sĩ và 18 ngành thạc sĩ, trung bình tuyển sinh hằng năm khoảng 500 nghiên cứu sinh và 200 học viên cao học; nhiều luận án tiến sĩ bảo vệ thành công với từ 2 công bố quốc tế trở lên, phản ánh chất lượng đào tạo ngày càng tiệm cận chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, Viện Toán học và hai Trung tâm UNESCO tiếp tục đóng vai trò kết nối đào tạo và nghiên cứu quốc tế, thu hút học viên và chuyên gia từ nhiều quốc gia.
Tuy nhiên, theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, việc đào tạo nguồn nhân lực khoa học công nghệ tại Viện Hàn lâm nói riêng và Việt Nam nói chung vẫn còn nhiều thách thức. Nguồn nhân lực đầu vào còn khiêm tốn, số lượng sinh viên theo học các ngành khoa học và công nghệ chưa đáp ứng so với nhu cầu phát triển công nghệ chiến lược của đất nước. Trong bối cảnh chuyển đổi số và công nghiệp 4.0, nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, năng lượng mới… tăng nhanh, nhưng nguồn cung đào tạo trong nước chưa đáp ứng tương xứng cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh đó, lực lượng nhân sự giỏi trong lĩnh vực công nghệ chưa được các đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp trong nước sử dụng, chưa hình thành được hệ sinh thái hấp thụ công nghệ đủ mạnh. Điều này dẫn tới tình trạng một bộ phận nhân lực chất lượng cao chưa phát huy hết năng lực, hoặc chuyển dịch ra khu vực ngoài nhà nước và ra nước ngoài.
Cùng với đó, cơ chế giao quyền tự chủ trong quản lý và khai thác tài sản được hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học, bao gồm tài sản trí tuệ, thiết bị phòng thí nghiệm và cơ sở vật chất vẫn còn những vướng mắc. “Đây được coi là một điểm nghẽn lớn trong việc phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và thu hút nguồn nhân lực khoa học công nghệ gắn bó lâu dài, điều này quay trở lại làm giảm sức hút cho nguồn cung đầu vào đào tạo khoa học công nghệ”, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh cho biết thêm.
*Tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn phát triển nguồn nhân lực
Nhiều tồn tại, hạn chế trong công tác xây dựng đội ngũ nhà khoa học đã được nêu ra trong nhiều văn bản, nghị quyết cũng như trên các phương tiện truyền thông, có thể kế đến như cơ chế hoạt động khoa học công nghệ, chính sách đãi ngộ, cơ chế tài chính, môi trường làm việc, cơ sở hạ tầng nghiên cứu… một số những tồn tại hạn chế đã được tháo gỡ trong thời gian gần đây, ngay sau khi Nghị quyết 57 được ban hành. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong việc phát triển đội ngũ trí thức, nhà khoa học đã được Nghị quyết số 45-NQ/TW, ngày 24/11/2023, Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đã chỉ rõ:
“Việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức còn bất cập, hạn chế; một số nội dung của Nghị quyết chậm được thể chế; chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện, đồng bộ; thiếu cơ chế, chính sách đột phá trong đầu tư, huy động nguồn lực, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng, tôn vinh trí thức…”.
Những bất cập này không chỉ làm giảm nhiệt huyết của giới khoa học, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả và tính ứng dụng của các nghiên cứu trong đời sống xã hội. Bên cạnh đó, còn thiếu sự liên kết giữa các nhà khoa học, giữa các cơ sở nghiên cứu và đào tạo với cơ sở ứng dụng dẫn đến tình trạng phân mảnh, thiếu hợp tác và hạn chế khả năng tạo ra các sản phẩm khoa học có giá trị liên ngành, mang tính đột phá, tính thực tiễn cao. “Nếu không có bước chuyển quyết liệt, chúng ta sẽ tiếp tục đối mặt với nghịch lý: nhu cầu nhân lực công nghệ cao rất lớn nhưng số sinh viên theo học ngành khoa học công nghệ còn khiêm tốn; nhân lực giỏi được đào tạo bài bản nhưng doanh nghiệp chưa đủ năng lực hấp thụ; tài sản hình thành từ nghiên cứu có giá trị nhưng chưa được khai thác hiệu quả do vướng mắc thể chế”, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.
Từ thực tiễn triển khai công tác xây dựng đội ngũ nhà khoa học có trình độ cao tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và yêu cầu khách quan trong việc làm chủ các công nghệ chiến lược trong kỷ nguyên mới, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh cho rằng cần ba hành động trọng tâm. Thứ nhất, đào tạo nhân lực cho các công nghệ chiến lược phải gắn với chương trình quốc gia có nguồn lực đủ lớn và cơ chế đặt hàng cụ thể, thay vì phân tán và dàn trải. Thứ hai, liên kết 3 nhà (Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp) phải đi vào thực chất. Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu đặt bài toán, đồng tài trợ nghiên cứu, tiếp nhận nhân lực đến thương mại hóa sản phẩm, để trở thành một cấu phần thực sự của hệ sinh thái khoa học công nghệ. Thứ ba, cần tháo gỡ dứt điểm các rào cản về quản lý tài sản công, định giá tài sản trí tuệ và quyền khai thác kết quả nghiên cứu. Trao quyền tự chủ phải đi cùng quyền quyết định và quyền hưởng lợi rõ ràng cho tổ chức khoa học và nhà khoa học.
Trong giai đoạn hiện nay, phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ là vấn đề then chốt để làm chủ công nghệ chiến lược. Vì vậy, giải pháp mạnh, quyết liệt và mang tính hệ thống là yếu tố tiên quyết để tăng cường nguồn lực này, đóng góp thiết thực cho việc đảm bảo sự phát triển bền vững từ các đơn vị nghiên cứu, các doanh nghiệp đến quốc gia./.
Quyết Chiến






