A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Động lực tăng trưởng mới: Thay đổi trong tư duy về phát triển văn hóa

Văn hóa được xác lập là nền tảng tinh thần và động lực tăng trưởng mới, điều này cho thấy văn hóa phải hiện diện ngay từ đầu trong quá trình lựa chọn mô hình phát triển.

Đây là nhấn mạnh của PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. 

Văn hóa được xác lập là nền tảng tinh thần, trụ cột phát triển, nguồn lực nội sinh và động lực tăng trưởng mới. Ảnh: Quang Hùng

Văn hóa được xác lập là nền tảng tinh thần, trụ cột phát triển, nguồn lực nội sinh và động lực tăng trưởng mới. Ảnh: Quang Hùng

Nguồn lực nội sinh và động lực tăng trưởng mới

- Thưa ông, phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam và triển khai nhiệm vụ trong thời gian tới, ngày 13/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị quán triệt chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới. Điều này cho thấy những đổi mới nào trong tư duy phát triển văn hóa, thưa ông?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng đây là một sự đổi mới rất căn bản trong tư duy phát triển văn hóa. Văn hóa không còn được nhìn nhận như một lĩnh vực đứng riêng bên cạnh kinh tế, xã hội, khoa học hay giáo dục, càng không phải là phần việc chỉ được quan tâm sau khi đã giải quyết xong các mục tiêu tăng trưởng. Văn hóa được xác lập là nền tảng tinh thần, trụ cột phát triển, nguồn lực nội sinh và động lực tăng trưởng mới, nghĩa là văn hóa phải hiện diện ngay từ đầu trong quá trình lựa chọn mô hình phát triển và hoạch định chính sách quốc gia.

Sự thay đổi ấy thể hiện ở ít nhất 3 phương diện.

Trước hết, chúng ta chuyển từ tư duy quản lý một lĩnh vực sang kiến tạo một năng lực phát triển. Văn hóa không chỉ tạo ra các tác phẩm, sự kiện hay thiết chế, mà còn góp phần hình thành con người, niềm tin xã hội, đạo đức kinh doanh, tinh thần đổi mới sáng tạo và khả năng gắn kết cộng đồng. Một nền kinh tế muốn phát triển bền vững cần nền tảng văn hóa của chữ tín, trách nhiệm, kỷ luật và khát vọng vươn lên.

Thứ hai, văn hóa được nhìn nhận đồng thời ở cả giá trị tinh thần, giá trị xã hội và giá trị kinh tế. Đầu tư cho văn hóa không phải là chi tiêu mang tính phúc lợi đơn thuần, mà là đầu tư cho chất lượng nguồn nhân lực, sức sáng tạo, thương hiệu quốc gia và khả năng cạnh tranh lâu dài.

Thứ ba, tư duy bảo tồn cũng được mở rộng. Bảo tồn không chỉ là gìn giữ nguyên trạng, mà phải gắn với sáng tạo, giáo dục, công nghệ, du lịch và công nghiệp văn hóa, để di sản tiếp tục sống và tạo ra giá trị mới trong đời sống đương đại.

- Qua nửa năm thực hiện Nghị quyết 80-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ vẫn còn tồn tại những hạn chế và “bốn khoảng trống” cần sớm khắc phục. Theo ông, đâu là những “điểm nghẽn” phát triển của văn hóa hiện nay?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay, theo tôi, chính là khoảng cách giữa nhận thức đúng và năng lực tổ chức thực hiện. Chúng ta đã có những chủ trương lớn, mục tiêu rõ và quyết tâm chính trị cao, nhưng sự chuyển hóa từ nghị quyết, chương trình hành động thành sản phẩm, thị trường và tác động cụ thể vẫn còn chậm.

Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về văn hóa còn phân tán, một số quy định chưa theo kịp thực tiễn sáng tạo, chuyển đổi số và các mô hình kinh doanh mới. Người sáng tạo và doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn về thủ tục, bản quyền, cơ chế đầu tư, tiếp cận tín dụng, đất đai và huy động nguồn lực xã hội.

Về nguồn lực, chi ngân sách cho văn hóa hiện mới khoảng 1,5% tổng chi ngân sách nhà nước, thấp hơn mức tối thiểu 2% được đặt ra. Không thể xác lập văn hóa là trụ cột phát triển nhưng tiếp tục phân bổ nguồn lực theo tư duy “phần còn lại”. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là tăng ngân sách, mà còn phải sử dụng nguồn lực có trọng tâm, tránh dàn trải và đầu tư nặng về công trình nhưng nhẹ về con người, nội dung và vận hành.

Tiếp đó là dữ liệu và năng lực đo lường. Chúng ta chưa có hệ thống thống kê đầy đủ về thị trường văn hóa, doanh thu, việc làm, giá trị bản quyền và mức đóng góp của từng ngành. Không có dữ liệu đáng tin cậy thì rất khó thiết kế chính sách chính xác và đánh giá hiệu quả đầu tư.

Bên cạnh đó là những hạn chế về nhân lực, bản quyền, năng lực sản xuất, phân phối và thương mại hóa sản phẩm. Việt Nam có nguồn chất liệu văn hóa rất giàu có, nhưng chưa tạo ra nhiều tác phẩm, thương hiệu hay sản phẩm đủ sức cạnh tranh quốc tế.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. Ảnh: Công thông tin điện tử Quốc hội

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. Ảnh: Công thông tin điện tử Quốc hội

Xây dựng cơ chế phối hợp theo hướng liên ngành

- Thời gian tới, để thực hiện mục tiêu, tầm nhìn và khát vọng phát triển đã được xác lập rõ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, cần thay đổi cách tiếp cận và cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương như thế nào để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng mới, thưa ông?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Muốn văn hóa hiện diện trong mọi quyết sách, trước hết phải chấm dứt quan niệm phát triển văn hóa là nhiệm vụ riêng của ngành văn hóa. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có vai trò nòng cốt, nhưng văn hóa trong giáo dục thuộc trách nhiệm của ngành giáo dục; văn hóa kinh doanh gắn với ngành kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp; văn hóa số liên quan trực tiếp đến khoa học, công nghệ và truyền thông; ngoại giao văn hóa là trách nhiệm của ngành đối ngoại; văn hóa công vụ thuộc về toàn bộ hệ thống hành chính.

Do đó, cần xây dựng cơ chế phối hợp theo hướng liên ngành và cùng chịu trách nhiệm về kết quả. Mỗi bộ, ngành khi xây dựng chiến lược, quy hoạch và chính sách lớn cần xác định rõ mục tiêu văn hóa, tác động tới con người, cộng đồng và hệ giá trị xã hội. Đối với những dự án phát triển quy mô lớn, cần từng bước hình thành cơ chế đánh giá tác động văn hóa tương tự như đánh giá tác động kinh tế, xã hội và môi trường.

Đơn cử, một dự án đô thị không chỉ được đánh giá qua mật độ xây dựng và hiệu quả sử dụng đất, mà còn phải xem có bảo vệ ký ức, bản sắc và không gian công cộng hay không. Một chính sách phát triển công nghệ không chỉ hướng đến năng suất, mà còn phải quan tâm đến an toàn dữ liệu, đạo đức số, khả năng tiếp cận của người yếu thế và tác động tới lối sống xã hội. Một chương trình giáo dục không thể chỉ cung cấp kiến thức, mà còn phải hình thành nhân cách, khả năng cảm thụ và trách nhiệm công dân.

Về tổ chức thực hiện, cần có hệ thống dữ liệu dùng chung và bộ chỉ số thống nhất, qua đó phân định rõ nhiệm vụ của từng bộ, ngành, địa phương. Kết quả phát triển văn hóa phải trở thành một tiêu chí đánh giá năng lực quản trị, chứ không chỉ là nội dung báo cáo của cơ quan văn hóa.

Ở địa phương, người đứng đầu phải trực tiếp chịu trách nhiệm về môi trường văn hóa, hiệu quả của thiết chế và các dự án văn hóa. Đồng thời, cần tăng cường liên kết vùng, bởi thị trường, nguồn nhân lực, hạ tầng sáng tạo và chuỗi giá trị văn hóa không dừng lại trong địa giới hành chính.

- 1 trong 4 nhiệm vụ trọng tâm để tạo nền tảng phát triển văn hóa những năm tiếp theo được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu đó là phát triển công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng mới. Vậy, theo ông những lĩnh vực công nghiệp văn hóa Việt Nam cần ưu tiên đầu tư trong giai đoạn tới để vừa phát huy giá trị văn hóa dân tộc, vừa tạo ra giá trị kinh tế và nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, Việt Nam không nên đầu tư dàn trải vào tất cả các lĩnh vực cùng một lúc, mà cần lựa chọn những ngành vừa có lợi thế về chất liệu văn hóa, vừa có khả năng ứng dụng công nghệ, mở rộng thị trường và xuất khẩu tài sản trí tuệ.

Trước hết là điện ảnh, hoạt hình và nội dung nghe nhìn. Việt Nam có kho tàng lịch sử, văn học, truyền thuyết, di sản và đời sống xã hội rất phong phú. Đây là nguồn chất liệu lớn để xây dựng những câu chuyện mang bản sắc Việt Nam nhưng có khả năng tiếp cận công chúng toàn cầu. Điện ảnh không chỉ tạo doanh thu phòng vé, mà còn thúc đẩy du lịch, thời trang, âm nhạc, quảng bá địa điểm và hình ảnh quốc gia.

Thứ hai là âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn. Những concert quy mô lớn thời gian qua cho thấy thị trường trong nước có nhu cầu rất lớn. Nếu được đầu tư bài bản về hạ tầng, công nghệ, bản quyền, quản trị và đào tạo nhân lực, Việt Nam hoàn toàn có thể hình thành hệ sinh thái biểu diễn chuyên nghiệp, thu hút khách du lịch và tạo thêm nhiều việc làm.

Thứ ba là trò chơi điện tử, hoạt hình và các sản phẩm nội dung số. Đây là những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh, khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu và phù hợp với thế mạnh của lực lượng lao động trẻ. Điều quan trọng là đưa lịch sử, kiến trúc, mỹ thuật, âm nhạc và huyền thoại Việt Nam vào trong các sản phẩm ấy, thay vì chỉ tham gia ở những khâu gia công có giá trị thấp.

Thứ tư là thiết kế, thời trang, quảng cáo, kiến trúc và thủ công mỹ nghệ. Đây là nhóm ngành có khả năng chuyển hóa hoa văn, chất liệu, kỹ năng truyền thống và bản sắc địa phương thành sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Bên cạnh đó là du lịch văn hóa, xuất bản và các sản phẩm sáng tạo dựa trên di sản. Tuy nhiên, cần tránh khai thác di sản theo hướng thương mại hóa dễ dãi. Giá trị kinh tế phải đi cùng bảo tồn, quyền lợi cộng đồng và sự tôn trọng tính xác thực của văn hóa.

- Xin cảm ơn ông!

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Việc hoạch định chính sách đối với phát triển văn hóa trong thời gian tới phải có những thay đổi thực chất. Mỗi chiến lược, quy hoạch hay dự án phát triển lớn cần được xem xét cả về tác động văn hóa và xã hội, chứ không chỉ đánh giá hiệu quả kinh tế. Đồng thời, cần chuyển mạnh từ đánh giá bằng số lượng hoạt động sang đánh giá bằng sản phẩm, tác động xã hội, mức độ thụ hưởng của người dân, giá trị bản quyền, việc làm và đóng góp vào tăng trưởng.

Hoa Quỳnh (thực hiện)
Thích

Các tin khác