A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù phát triển các khu công nghệ cao tại TPHCM

UBND TPHCM vừa có Tờ trình số 1514/TTr-UBND trình HĐND thành phố xem xét, thông qua dự thảo Nghị quyết quy định một số cơ chế, chính sách quản lý, đầu tư xây dựng và phát triển các khu công nghệ cao trên địa bàn tại kỳ họp thứ VI (kỳ họp chuyên đề) HĐND thành phố khóa XI.

Dự thảo Nghị quyết nhằm cụ thể hóa các chủ trương, định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý, đầu tư xây dựng và phát triển các khu công nghệ cao trên địa bàn TPHCM.

Theo nội dung Tờ trình việc xây dựng Nghị quyết xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và cơ sở pháp lý, trong đó có Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng thể chế đột phá, phân cấp cho TPHCM phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, thu hút tập đoàn đa quốc gia và các dự án công nghệ lõi. Đồng thời, dự thảo cụ thể hóa thẩm quyền được giao tại điểm a, b, c khoản 2 điều 32 Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16.

Hiện nay, các khu công nghệ trên địa bàn TPHCM đã đạt được những kết quả đáng chú ý. Khu công nghệ cao TPHCM có quy mô hơn 1.110 ha, thu hút 166 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư tương đương 13,755 tỷ USD; giá trị sản xuất lũy kế đạt hơn 201 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 190 tỷ USD.

Khu công nghệ cao TPHCM thu hút 166 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư tương đương hơn 13,7 tỷ USD

Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có quy mô hơn 1.754 ha, với tổng vốn đầu tư công đã triển khai và dự kiến là 36.958 tỷ đồng; có 56 nhà đầu tư quan tâm thuê đất, với tổng vốn đầu tư hơn 5.970 tỷ đồng.

Trong khi đó, công viên phần mềm Quang Trung đạt tỷ lệ lấp đầy đất thương phẩm 86,42%, quy tụ 118 doanh nghiệp công nghệ số, tổng vốn đầu tư 6.696,7 tỷ đồng và cung cấp hơn 650 sản phẩm, dịch vụ tới hơn 30 quốc gia.

Từ thực tiễn này, dự thảo Nghị quyết được xây dựng gồm 6 chương, 27 điều, quy định thống nhất đối với các loại hình khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung và khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Các nhóm chính sách đáng chú ý tập trung vào hoàn thiện khung pháp lý; quy định trình tự, thẩm quyền điều chỉnh quy mô, tên gọi khu công nghệ cao; tổ chức không gian và bố trí quỹ đất sử dụng hỗn hợp, bảo đảm phù hợp với chức năng chính của từng khu. Dự thảo cũng đề xuất cơ chế hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng công nghệ dùng chung phục vụ nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo; hỗ trợ các dự án quy mô lớn về đào tạo nhân lực, R&D, tạo tài sản cố định và phát triển hạ tầng xã hội phục vụ người lao động.

Bên cạnh đó, dự thảo đề xuất cơ chế một cửa liên thông, theo đó cơ quan quản lý khu công nghệ cao làm đầu mối tiếp nhận, giải quyết trực tiếp các thủ tục hành chính về đầu tư; khuyến khích liên kết, chia sẻ hạ tầng số, thiết bị, dữ liệu và nguồn lực nghiên cứu giữa các khu. Công tác đánh giá, giám sát dự án cũng được chú trọng thông qua cơ chế tư vấn độc lập và xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung phục vụ hậu kiểm, hạn chế việc lợi dụng chính sách.

Theo UBND TPHCM, việc triển khai Nghị quyết không làm phát sinh bộ máy mới hoặc thủ tục hành chính dư thừa. Kinh phí thực hiện được bảo đảm từ ngân sách thành phố, vốn đầu tư công, phương thức đối tác công tư (PPP) và nguồn xã hội hóa.

UBND TPHCM trình HĐND thành phố xem xét, thông qua dự thảo Nghị quyết tại kỳ họp thứ VI (kỳ họp chuyên đề) HĐND thành phố khóa XI, làm cơ sở triển khai các cơ chế, chính sách phục vụ quản lý, đầu tư xây dựng và phát triển các khu công nghệ cao trên địa bàn.

Hải Long

Các tin khác