A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Cà phê Việt Nam trước yêu cầu nâng tầm giá trị

Xuất khẩu cà phê tăng về lượng nhưng giảm về giá trị cho thấy lợi thế sản lượng chưa đủ để ngành cà phê Việt Nam làm chủ cuộc chơi.

Bán nhiều nhưng chưa làm chủ cuộc chơi

Theo số liệu của Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa), 8 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,36 triệu tấn cà phê, thu về 6,16 tỷ USD, tăng 13,1% về lượng nhưng giảm 9,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt 4.538 USD/tấn, giảm 19,7%. Robusta tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực với gần 1,01 triệu tấn, kim ngạch khoảng 4 tỷ USD, tăng 11,4% về lượng nhưng giảm 15,4% về giá trị. Cà phê Arabica đạt 58.500 tấn, kim ngạch 387,7 triệu USD. Trong khi đó, dù quy mô còn nhỏ, kim ngạch xuất khẩu cà phê Excelsa tăng hơn 44%, đạt 4,3 triệu USD.

Robusta tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành cà phê Việt Nam.

Robusta tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành cà phê Việt Nam.

Ở chiều tích cực, cà phê chế biến đạt kim ngạch 1,06 tỷ USD, tăng 4,3%. Kết quả này cho thấy xu hướng gia tăng giá trị thông qua chế biến đã hình thành, dù tỷ trọng vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng. Vicofa dự báo, xuất khẩu cà phê năm 2026 có thể tăng 8-10% về sản lượng so với năm 2025, khi nguồn cung từ niên vụ mới bắt đầu từ tháng 11. Tuy nhiên, tăng lượng xuất khẩu không đồng nghĩa giá sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao.

Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, niên vụ 2026/2027, tổng nguồn cung cà phê thế giới dự kiến khoảng 189 triệu bao loại 60 kg, trong khi nhu cầu khoảng 179 triệu bao. Sau 3 năm giá cà phê duy trì ở mức cao, nông dân tại nhiều nước sản xuất đã tăng đầu tư, mở rộng diện tích, khiến nguồn cung gia tăng và tạo sức ép lên giá. Theo ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Vicofa, đây tiếp tục là yếu tố cần lưu ý trong thời gian tới.

Nhưng sức ép từ cung cầu thế giới chỉ là một phần câu chuyện. Đáng bàn hơn, khi giá nguyên liệu biến động, việc phụ thuộc lớn vào xuất khẩu cà phê nhân khiến ngành cà phê Việt Nam phải chịu tác động trực tiếp từ thị trường thế giới. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty Vĩnh Hiệp đặt vấn đề: “Chúng ta đang đứng ở đâu trên bản đồ thế giới? Tại sao chúng ta lớn như vậy nhưng vẫn chưa định hình được cuộc chơi, vẫn phải ở vị thế của một ‘follower’? Và để thay đổi vị thế đó, chúng ta cần phải làm gì?”.

Việt Nam không thiếu quy mô và lợi thế về Robusta. Nhưng theo ông Hiệp, lợi thế sản lượng chưa chuyển hóa tương xứng thành khả năng quyết định về chất lượng, tiêu chuẩn và giá trị. “Chúng ta mạnh về sản lượng nhưng chưa làm chủ được chất lượng để đặt chất lượng lên bàn đàm phán và qua đó định hình cuộc chơi của ngành cà phê”, ông Hiệp nói.

Đây không chỉ là câu chuyện của doanh nghiệp xuất khẩu. Ngành cà phê đang tạo sinh kế cho gần 2 triệu người, trong đó có đông đảo đồng bào dân tộc thiểu số tại các vùng trồng. Vì vậy, nâng cấp ngành cà phê cũng đồng thời là bài toán về thu nhập và sinh kế của người sản xuất. Theo ông Hiệp, muốn thay đổi vị thế cần nhìn lại toàn bộ hệ sinh thái, từ người trồng, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp lớn đến các đơn vị rang xay. Các mắt xích phải liên kết tốt hơn và quan trọng nhất là tổ chức sản xuất theo nhu cầu của thị trường. “Chúng ta phải bán thứ thị trường cần, chứ không phải chỉ bán thứ mình có”, ông Hiệp nhấn mạnh.

Thực tế, khi tiêu chuẩn, dữ liệu vùng trồng, chất lượng và các yêu cầu về môi trường chủ yếu được thiết lập từ phía thị trường nhập khẩu, doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải thích ứng với luật chơi có sẵn. Vì vậy, theo ông Hiệp, ngành cà phê cần tái cơ cấu hệ thống tiêu chuẩn từ đầu vào nông nghiệp, chứng minh chất lượng và minh bạch dữ liệu vùng trồng. Đây cũng là nền tảng để ngành chuyển từ thế bị động sang chủ động trong thương mại quốc tế.

Chế biến sâu để giữ lại giá trị cao hơn

Một trong những hướng rõ nhất để giảm phụ thuộc vào biến động của giá cà phê nhân là tăng chế biến sâu. Hiện cà phê chế biến sâu chỉ sử dụng khoảng 8-10% lượng nguyên liệu nhưng có thể đóng góp 17-18% kim ngạch xuất khẩu. Khoảng cách này cho thấy dư địa gia tăng giá trị còn rất lớn. Một số doanh nghiệp như Intimex, Vĩnh Hiệp, Phúc Sinh đã tăng đầu tư vào chế biến, phát triển sản phẩm rang xay, cà phê hòa tan và xây dựng thương hiệu riêng. Intimex cũng mở rộng đáng kể công suất chế biến so với mức khoảng 4.000 tấn/năm trước đây.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Nam Hải, chế biến sâu đang gặp hai rào cản lớn là vốn và thị trường. Một hệ thống sản xuất cà phê hòa tan công suất khoảng 3.000 tấn/năm có thể cần vốn đầu tư tới 30 triệu USD. Đây là khoản đầu tư lớn đối với nhiều doanh nghiệp. Trong khi đó, nếu chưa có thị trường đủ rộng, doanh nghiệp khó mạnh dạn đầu tư nhà máy, mở rộng công suất và xây dựng thương hiệu. Do đó, theo ông Hải, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dài hạn với chi phí phù hợp, nhất là các dự án có phương án sản xuất, thị trường và khả năng hoàn vốn rõ ràng.

Cùng với vốn, thị trường là điều kiện quyết định. Xúc tiến thương mại cần được mở rộng, không chỉ tập trung vào các thị trường truyền thống mà hướng tới những thị trường mới, trong đó có Trung Quốc và các nước châu Á. “Khi thị trường được mở rộng, doanh nghiệp có thêm cơ sở để đầu tư vào sản phẩm chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và nâng tỷ trọng giá trị gia tăng trong xuất khẩu”, ông Hải cho biết.

Nếu chế biến sâu là cách để giữ lại nhiều hơn giá trị của hạt cà phê, việc chủ động về tiêu chuẩn và dữ liệu lại là cách để nâng vị thế trong chuỗi. Một yêu cầu ngày càng rõ nét là các tiêu chuẩn về sản xuất bền vững và truy xuất nguồn gốc, trong đó có Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR).

Theo Chủ tịch Vicofa, đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để cà phê Việt Nam củng cố và gia tăng thị phần tại EU. Hiện hơn 30% diện tích cà phê trong nước có chứng chỉ sản xuất bền vững và khoảng 35-40% sản lượng có khả năng đáp ứng yêu cầu của EUDR. Các lô hàng đáp ứng yêu cầu có thể được trả giá cao hơn khoảng 50 USD/tấn so với cà phê thông thường.

Việt Nam đã tăng cường phối hợp với phía EU và xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, tỷ lệ sản lượng có khả năng đáp ứng EUDR mới ở mức 35-40% cho thấy khoảng trống vẫn còn đáng kể. Dữ liệu vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và tính minh bạch của chuỗi cung ứng cần tiếp tục hoàn thiện.

Điều quan trọng là không nên chỉ nhìn các tiêu chuẩn mới như những hàng rào kỹ thuật mà phải coi đây là động lực để tổ chức lại sản xuất. Nếu chỉ chạy theo từng yêu cầu của từng thị trường, Việt Nam vẫn ở thế phản ứng. Ngược lại, nếu chủ động xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, dữ liệu và chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty Vĩnh Hiệp.

Ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty Vĩnh Hiệp.

Để làm được điều đó, liên kết trong ngành là điều không thể bỏ qua. Theo ông Hiệp, một doanh nghiệp không thể mua hết sản lượng cà phê của Việt Nam, cũng không thể tự mình tiêu thụ toàn bộ sản phẩm. Các doanh nghiệp cần liên kết để hình thành hệ sinh thái và chuỗi giá trị có khả năng vươn ra toàn cầu. “Doanh nghiệp Việt Nam cần đoàn kết với nhau”, ông Hiệp chia sẻ và cho hay, liên kết ở đây không chỉ là cùng bán hàng hay cùng xúc tiến thương mại, mà còn là khả năng cùng chia sẻ dữ liệu, thống nhất tiêu chuẩn, nâng chất lượng nguyên liệu và hình thành những sản phẩm có sức cạnh tranh. Đó cũng là điểm ngành cà phê cần thay đổi nếu muốn đi xa hơn lợi thế sản lượng.

Theo các chuyên gia trong ngành, để chuyển từ lợi thế về sản lượng sang vị thế sâu hơn trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu, Việt Nam còn một chặng đường dài. Thay vì chỉ tập trung mở rộng sản lượng hay tìm kiếm thêm thị trường, trọng tâm cần là nâng cao chất lượng, làm chủ dữ liệu, tiêu chuẩn và gia tăng giá trị của hạt cà phê Việt Nam.

Với một ngành hàng nhiều năm đứng trong nhóm xuất khẩu cà phê lớn của thế giới, câu chuyện không còn đơn thuần là sản xuất bao nhiêu, mà là giữ lại được bao nhiêu giá trị và có khả năng tham gia, thậm chí định hình, cuộc chơi đến đâu.

Nguyễn Hạnh

Các tin khác