A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

10 nhiệm vụ trọng tâm để đẩy mạnh triển khai Tuyên bố JETP

Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng nêu 10 nhiệm vụ trọng tâm để đẩy mạnh triển khai Tuyên bố trong thời gian tới.

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (Tuyên bố JETP).

Đề án nêu 10 nhiệm vụ trọng tâm để đẩy mạnh triển khai Tuyên bố JETP trong thời gian tới.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy chuyển đổi năng lượng.

Rà soát, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế trong quy hoạch, cấp phép, huy động vốn cho các dự án về năng lượng; có cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội để thu hút và triển khai các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng, góp phần giảm phát thải khí nhà kính và đóng góp cho quá trình chuyển đổi năng lượng công bằng của Việt Nam.

Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy chuyển đổi năng lượng

Hoàn thiện chính sách tài chính theo hướng huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài vào các dự án trong lĩnh vực năng lượng theo hình thức nhà đầu tư độc lập hoặc đối tác công tư (PPP). Đổi mới chính sách tín dụng theo hướng linh hoạt, hiệu quả, ưu tiên bố trí vốn tín dụng cho lĩnh vực năng lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp năng lượng tiếp cận các nguồn vốn.

Cải thiện khung pháp lý tạo thuận lợi cho đầu tư vào năng lượng mới, năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và tăng cường lưới điện ở Việt Nam; xây dựng khung chính sách đủ mạnh để khuyến khích các hộ sử dụng điện lớn xây dựng hệ thống thu hồi năng lượng để sản xuất điện; xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi hợp lý để phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và hệ thống lưu trữ năng lượng...

Thứ hai, thúc đẩy chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch.

Đàm phán với các nhà đầu tư các dự án nhiệt điện than chậm tiến độ, gặp khó khăn trong thu xếp vốn, thay đổi cơ cấu chủ đầu tư và đề xuất phương án xử lý phù hợp theo quy định của pháp luật; đàm phán về đóng cửa các nhà máy nhiệt điện than cũ, kém hiệu quả có tuổi thọ trên 40 năm nếu không thể chuyển đổi nhiên liệu và không đáp ứng theo lộ trình giảm phát thải khí nhà kính của quốc gia.

Triển khai lộ trình thực hiện các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính các nhà máy nhiệt điện than, bao gồm lộ trình chuyển đổi các nhà máy nhiệt điện than sang sử dụng các nguồn nhiên liệu xanh, sạch như hydrogen xanh, amoniac xanh... phù hợp với Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050...

Thứ ba, phát triển hệ sinh thái công nghiệp và dịch vụ về năng lượng tái tạo.

Tiếp tục đẩy mạnh phát triển các nguồn năng lượng tái tạo (thủy điện, điện mặt trời, điện gió trên bờ, ngoài khơi, sóng biển, địa nhiệt...), năng lượng mới (hydrogen xanh, amoniac xanh...) theo quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện trong quy hoạch tỉnh, phù hợp với khả năng bảo đảm vận hành an toàn hệ thống điện với giá thành hợp lý.

Nghiên cứu xây dựng 2 trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng; phát triển các loại hình điện sinh khối, điện sản xuất từ rác, chất thải rắn phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực và phương án phát triển mạng lưới cấp điện trong quy hoạch tỉnh nhằm tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, chế biến gỗ, thúc đẩy trồng rừng và xử lý môi trường.

Khuyến khích sử dụng điện được sản xuất từ nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng sạch; thúc đẩy phát triển điện mặt trời mái nhà, điện mặt trời độc lập tại các công sở, khu dân cư và hộ gia đình...

Thứ tư, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Tăng cường thực hiện các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, dịch vụ, thương mại và dân dụng.

Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy định bắt buộc kèm theo chế tài đối với việc tuân thủ quy định về định mức sử dụng năng lượng cho các ngành công nghiệp, giao thông. Thúc đẩy phát triển và áp dụng mô hình kinh doanh và công ty dịch vụ tiết kiệm năng lượng (ESCO).

Thứ năm, nâng cấp hệ thống truyền tải và phân phối điện, đẩy nhanh lộ trình xây dựng hệ thống điện thông minh và phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng.

Nghiên cứu áp dụng công nghệ mới trong hệ thống truyền tải và phân phối điện; tiếp tục đẩy mạnh triển khai lộ trình phát triển hệ thống điện thông minh để tăng cường khả năng tích hợp năng lượng tái tạo vào hệ thống điện, giảm tổn thất điện năng trên lưới điện.

Phát triển các nhà máy thủy điện tích năng để điều hòa phụ tải, dự phòng công suất và tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo với quy mô lớn.

Hỗ trợ triển khai công nghệ pin lưu trữ kết hợp điện mặt trời quy mô lớn và các loại hình lưu trữ năng lượng tiên tiến khác.

Xây dựng cơ chế khuyến khích phụ tải tham gia giảm tải trong các giờ cao điểm của hệ thống điện hoặc thay đổi phương thức quản lý để hoạt động vào các giờ giá điện thấp.

Thứ sáu, chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông vận tải và xây dựng.

Thực hiện Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí carbon và khí mê-tan lĩnh vực giao thông vận tải.

Đẩy nhanh sự phát triển của các nguồn năng lượng tái tạo và quản lý hệ thống điện sạch

Thứ bảy, đổi mới sáng tạo, phát triển và chuyển giao công nghệ.

Hỗ trợ Việt Nam trở thành trung tâm quốc tế về năng lượng tái tạo để chia sẻ kiến thức chuyên môn, hỗ trợ phát triển kỹ năng, hiểu biết về công nghệ đồng thời tạo điều kiện hợp tác với khu vực tư nhân về chuyển giao công nghệ nhằm đẩy nhanh sự phát triển của các nguồn năng lượng tái tạo và quản lý hệ thống điện sạch.

Áp dụng công nghệ mới, hiện đại theo hướng chuyển dịch sang nền kinh tế carbon thấp, giảm tiêu thụ năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính, hỗ trợ giảm phát thải carbon trên đơn vị sản phẩm hàng hóa xuất khẩu và tham gia thị trường carbon trong nước.

Xây dựng, ban hành các tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong xác định công nghệ sạch, xác định các dự án chuyển đổi xanh; rà soát, sửa đổi, bổ sung và xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về môi trường, phát thải khí nhà kính thuộc lĩnh vực tái chế, xử lý chất thải phục vụ mục đích sản xuất năng lượng.

Nghiên cứu phát triển và ứng dụng các nguồn năng lượng mới (hydrogen xanh, amoniac xanh); nghiên cứu thí điểm triển khai các công nghệ thu hồi, lưu trữ và sử dụng carbon (CCUS), đồng đốt ammonia đối với lò hơi (nhiệt điện than), nghiên cứu thu hồi khí mê-tan trong các hoạt động khai thác than và dầu khí, lưu trữ, chế biến, vận chuyển các sản phẩm than, dầu khí và nhiên liệu...

Thứ tám, bảo đảm công bằng trong chuyển đổi năng lượng.

Đảm bảo bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực và thực hiện trách nhiệm trong chuyển đổi năng lượng; hỗ trợ các nhóm lao động và hộ gia đình dễ bị tổn thương chịu ảnh hưởng của quá trình chuyển đổi năng lượng và thực hiện đào tạo, đào tạo lại các lao động bị ảnh hưởng.

Thứ chín, truyền thông, nâng cao nhận thức.

Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về các cơ hội, thách thức và tầm quan trọng của việc thực hiện chuyển đổi năng lượng công bằng; lồng ghép các hoạt động truyền thông trong quá trình xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án chuyển đổi năng lượng công bằng.

Thứ mười, thúc đẩy hợp tác, huy động nguồn lực cho chuyển đổi năng lượng công bằng.

Tích cực vận động thu hút nguồn lực quốc tế thông qua hoạt động đối ngoại cấp cao, chương trình làm việc của các bộ, ngành, địa phương với đối tác nước ngoài, các cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài.

Tìm hiểu, tiếp thu, chia sẻ kinh nghiệm, mô hình thực hiện chuyển đổi công bằng ở các nước, các sáng kiến sử dụng nguồn năng lượng xanh, chuyển đổi năng lượng từ than sang các nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, phi carbon hóa lưới điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững; chủ động tham gia và đóng góp tích cực tại các khuôn khổ hợp tác song phương, đa phương nhằm tích hợp nội dung về chuyển đổi công bằng trong quá trình đàm phán, hợp tác quốc tế...

Cẩm Hạnh

Thích

Các tin khác